Cây bản địa định danh quanh hồ Tà Đùng là những cây gỗ vốn mọc trong rừng của vùng, như sao đen, dầu rái, giáng hương, gõ đỏ, được trồng từ cây giống có nguồn gốc rõ ràng, gắn mã và hồ sơ, để giữ đất cho sườn đồi, che bóng cho mép vườn và sống lâu hơn nhiều thế hệ người trồng. Cây không cho trái để ăn; thứ bạn nhận lại là một cây có tên, lớn lên qua hàng chục năm, cùng một hồ sơ đo đếm ghi lại từng năm của nó.
Đây là lựa chọn của nhiều người trồng cây tưởng nhớ người thân, trồng cây cho con mới sinh, hay những nhóm muốn góp vào màu xanh quanh hồ. Bài này nói về lý do trồng, cách chọn loài, nguồn giống hợp pháp, cách đo cây theo kiểu người làm rừng, và câu hỏi lớn nhất của cây bản địa: ai giữ cây khi gói đã hết hạn từ lâu mà cây vẫn còn đó.
Vì sao cây bản địa có chỗ đứng riêng quanh hồ
Vùng hồ Tà Đùng nằm cạnh rừng của Vườn quốc gia Tà Đùng, một trong những khu rừng thường xanh lớn ở phía nam Tây Nguyên. Phần lớn đồi quanh hồ đã thành vườn cà phê, tiêu, cây ăn trái. Dải chuyển tiếp giữa rừng và vườn, mép khe suối, sườn đồi quá dốc để canh tác là những chỗ cây bản địa có giá trị nhất: rễ sâu giữ đất khi mưa lớn, tán cao che bóng, lá rụng làm lớp phủ, và là chỗ đậu, chỗ kiếm ăn của chim.
Với vườn cây ăn trái, một hàng cây bản địa ở rìa vườn còn là hàng chắn gió cho bơ, sầu riêng trong mùa dông. Với người nhận cây, cây bản địa có một lợi thế mà cây ăn trái không có: nó không nằm trong chu kỳ canh tác. Vườn có thể thay cà phê già bằng sầu riêng, thay tiêu bằng bơ, nhưng một cây sao đen đã lớn ở rìa vườn thường được để yên. Đó là lý do cây bản địa hợp với những ý nghĩa kéo dài nhiều chục năm.
Cũng cần nói rõ giới hạn: vài chục cây bản địa trồng ở rìa một vườn gia đình không biến vùng đồi thành rừng. Rừng là một hệ sinh thái nhiều tầng, nhiều loài, hình thành qua thời gian rất dài. Cái mà một gói cây bản địa làm được là góp những mảnh xanh có cây gỗ lớn vào cảnh quan vườn đồi, tạo lối đi cho chim và giữ đất ở những chỗ dễ sạt nhất. Như vậy đã đủ ý nghĩa, không cần gọi nó bằng những cái tên to hơn.
Một số loài bản địa thường được chọn
Đây là những loài cây gỗ quen thuộc của rừng phía nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, đã được gây trồng rộng rãi. Danh sách cụ thể hợp với từng vạt đồi nên hỏi người làm vườn, vườn ươm địa phương hoặc cán bộ lâm nghiệp.
| Loài | Đặc điểm khi trồng | Lưu ý |
|---|---|---|
| Sao đen | Cây gỗ lớn, thân thẳng, tán cao; lớn tương đối nhanh khi đã bén rễ | Cây con ưa chút bóng giai đoạn đầu |
| Dầu rái | Cây gỗ lớn, thân thẳng, chịu được nhiều loại đất | Cần không gian rộng khi trưởng thành, không trồng sát nhà |
| Giáng hương | Gỗ quý, tán đẹp, hoa vàng theo mùa | Thuộc nhóm gỗ quý, nguồn giống và hồ sơ càng phải rõ |
| Gõ đỏ | Gỗ quý, lớn chậm, sống lâu | Lớn chậm; hợp ý nghĩa lâu dài hơn là nhìn thấy lớn nhanh |
| Muồng đen | Lớn khá nhanh, hay trồng làm cây che bóng trong vườn | Hợp hàng chắn gió, che bóng cho cây khác |
Không có loài nào phù hợp mọi chỗ. Đất sâu ẩm ở chân đồi khác đất mỏng trên đỉnh; sườn hướng nắng chiều khác sườn khuất. Người làm vườn có kinh nghiệm sẽ đặt loài ưa ẩm ở gần khe, loài chịu hạn ở chỗ đất khô hơn. Ghi lý do chọn vị trí vào hồ sơ.
Một vườn tốt cũng tránh trồng một loài duy nhất thành dải dài: trộn vài loài trong cùng hàng giúp hàng cây ít bị một loại sâu bệnh quét sạch, và về sau trông gần với mép rừng tự nhiên hơn. Hồ sơ chung của dải cây nên có sơ đồ loài nào đứng ở đâu.
Nguồn giống hợp pháp: điều không được thoả hiệp
Không bứng cây con từ rừng. Cây con mọc tự nhiên trong rừng, kể cả ngoài ranh vườn quốc gia, không phải thứ để đào về trồng. Việc này vừa vi phạm quy định về bảo vệ rừng, vừa làm hồ sơ cây của bạn bắt đầu bằng một điều không đúng.
Mua từ vườn ươm có nguồn gốc. Cây giống cây rừng nên đến từ vườn ươm có hồ sơ nguồn giống. Hỏi vườn ươm hạt lấy từ đâu, lô cây giống nào. Ghi những thông tin này vào hồ sơ cây ngay ngày trồng.
Gỗ quý cần hồ sơ càng rõ. Với giáng hương, gõ đỏ và những loài gỗ có giá trị cao, hồ sơ nguồn gốc cây giống và hồ sơ trồng là thứ chứng minh đây là cây trồng, không phải cây rừng tự nhiên. Nhiều chục năm sau, nếu có ai cần xác định nguồn gốc cái cây này, hồ sơ cây định danh chính là giấy khai sinh của nó.
Ưu tiên hạt giống từ vùng gần. Cây bản địa từ nguồn hạt cùng vùng sinh thái thường thích nghi tốt hơn. Đây là một lý do để hỏi vườn ươm về nguồn hạt chứ không chỉ về loài.
Đo cây bản địa theo cách của người làm rừng
Cây ăn trái được theo dõi bằng hoa, trái, mùa vụ. Cây bản địa thì khác: thứ đáng ghi là cây lớn lên ra sao qua nhiều năm. Người làm rừng dùng một chỉ số chuẩn là đường kính thân ngang ngực, đo ở độ cao 1,3 mét tính từ mặt đất. Cách đơn giản nhất là đo chu vi thân bằng thước dây ở đúng độ cao đó, rồi chia cho số pi để ra đường kính. Ghi cả chu vi lẫn đường kính, cùng ngày đo.
Khi cây còn nhỏ, chưa cao tới 1,3 mét, đo chiều cao và đường kính gốc thay thế. Đánh dấu vị trí đo bằng một vạch sơn nhỏ hoặc ghi rõ "đo phía trên dốc" để năm sau đo đúng chỗ, vì trên đất dốc, mặt đất phía trên và phía dưới thân cây chênh nhau. Thêm vào đó là chiều cao ước tính và độ rộng tán. Mỗi năm đo một lần, cùng một tháng, tốt nhất là cuối mùa mưa khi cây vừa qua mùa lớn. Sau mười năm, chuỗi số đo này là một bản ghi có giá trị thật, không chỉ với bạn mà còn với bất kỳ ai muốn biết cây bản địa lớn ra sao trên đất đồi Tà Đùng.
Tỷ lệ sống, trồng bù và sự kiên nhẫn
Cây bản địa con thường mỏng manh hơn cây ăn trái ghép trong năm đầu. Nhiều loài ưa một chút bóng khi còn nhỏ, chịu nắng gắt kém, và mùa khô đầu tiên là thử thách lớn. Vườn có kinh nghiệm thường trồng xen cây che bóng tạm, phủ gốc dày, và tưới trong mùa khô đầu. Một số cây vẫn sẽ chết; đó là chuyện bình thường trong trồng rừng, quan trọng là trồng bù đúng mùa và ghi lại.
Hỏi vườn tỷ lệ sống thực tế của các đợt trồng cây bản địa trước đó trong chính vườn họ, và cam kết trồng bù trong bao nhiêu năm. Cũng nên chấp nhận rằng mấy năm đầu cây lớn chậm, nhìn từ xa gần như không thay đổi. Phần lớn sức của cây dồn xuống rễ. Tới năm thứ ba, thứ tư, khi rễ đã sâu, cây mới bắt đầu vươn lên rõ rệt. Người nhận cây bản địa cần nhiều kiên nhẫn hơn người nhận cây ăn trái, và hồ sơ đo đạc là thứ giúp giữ kiên nhẫn đó.
Ai giữ cây khi gói đã hết hạn
Câu hỏi khác hẳn cây ăn trái. Một gói cây bản địa có thể kéo dài mười năm, nhưng cây sống hàng chục, hàng trăm năm. Hết gói, cây vẫn đứng trên đất của chủ vườn. Thoả thuận nên nói rõ chủ vườn cam kết giữ cây tới bao giờ, có được chặt không, và nếu chặt thì trong điều kiện nào.
Ghi cam kết giữ cây vào thoả thuận. Có chủ vườn sẵn lòng cam kết không chặt cây định danh trong suốt thời gian giữ đất; có người chỉ cam kết trong thời hạn gói. Biết trước điều này giúp bạn quyết định có nhận hay không.
Khi vườn đổi chủ. Đất có thể được bán, được chia thừa kế. Một cây bản địa có thẻ, có hồ sơ, có lịch sử nhiều năm thường được chủ mới tôn trọng hơn một cây không ai biết là của ai. Hồ sơ cây chính là thứ bảo vệ cây trong những lần đổi chủ.
Tìm người kế nhiệm phía gia đình. Cây bản địa sống lâu hơn người nhận. Ghi trong hồ sơ ai trong gia đình sẽ tiếp tục theo dõi cây, và để người đó biết nơi cất hồ sơ.
Đừng hứa điều không giữ được. Một vườn nói "cây sẽ đứng đó mãi mãi" là đang hứa điều không ai bảo đảm được. Cách nói trung thực là cam kết cụ thể trong thời gian cụ thể, cộng với thiện chí giữ cây lâu hơn.
Không hứa tín chỉ carbon, không biến cây thành chứng nhận
Cây bản địa hấp thụ carbon khi lớn lên, điều đó đúng. Nhưng biến một vài cây trong vườn gia đình thành "tín chỉ carbon" hay "chứng nhận bù phát thải" là chuyện khác hẳn. Một dự án carbon thật cần đo đếm theo phương pháp được công nhận, trên một diện tích đủ lớn, có kiểm định độc lập, cam kết giữ rừng nhiều chục năm, và được đăng ký theo quy định. Gói cây định danh của một vườn đồi không phải là một dự án như vậy.
Vì vậy, cẩn trọng với gói cây bản địa đi kèm lời hứa về số tấn carbon mỗi cây hấp thụ, hay chứng nhận bù phát thải cho chuyến bay, cho công ty. Giá trị thật của một cây bản địa định danh nằm ở chỗ khác: góp vào mép rừng, giữ đất cho sườn đồi, là một cây có tên mà con cháu bạn có thể tìm lại. Những giá trị đó đủ lớn mà không cần thổi phồng.
Nếu một doanh nghiệp muốn trồng cây bản địa để nói về trách nhiệm môi trường, cách nói đúng là kể số cây đã trồng, số cây còn sống sau từng năm, và hồ sơ đo đạc công khai. Những con số kiểm chứng được như vậy thuyết phục hơn mọi tuyên bố về carbon không ai kiểm được.
Câu hỏi thường gặp
Cây bản địa nào hợp với vùng hồ Tà Đùng?
Những loài cây gỗ quen thuộc của rừng phía nam Tây Nguyên như sao đen, dầu rái, giáng hương, gõ đỏ, muồng đen thường được chọn. Loài cụ thể cho từng vạt đồi nên hỏi người làm vườn, vườn ươm địa phương hoặc cán bộ lâm nghiệp.
Có được tự đào cây con trong rừng về trồng không?
Không. Bứng cây con từ rừng vi phạm quy định bảo vệ rừng và làm hồ sơ cây bắt đầu bằng một điều sai. Cây giống phải mua từ vườn ươm có nguồn gốc rõ ràng, ghi nguồn hạt, lô cây giống vào hồ sơ.
Đo cây bản địa thế nào cho đúng?
Đo chu vi thân ở độ cao 1,3 mét tính từ mặt đất, chia cho số pi để ra đường kính ngang ngực. Cây còn thấp thì đo chiều cao và đường kính gốc. Đánh dấu vị trí đo, đo mỗi năm một lần vào cùng tháng.
Cây bản địa bao lâu mới thành cây lớn?
Tuỳ loài và đất. Mấy năm đầu cây lớn chậm vì dồn sức cho rễ, sau đó mới vươn nhanh. Loài lớn nhanh như sao đen, muồng đen có thể thành cây có tán sau khoảng một thập kỷ; gõ đỏ lớn chậm hơn nhiều.
Hết thời hạn gói thì cây bản địa ra sao?
Cây vẫn đứng trên đất của chủ vườn. Thoả thuận nên ghi rõ chủ vườn cam kết giữ cây tới khi nào, có được chặt không. Hồ sơ cây và thẻ cây giúp cây được tôn trọng khi vườn đổi chủ hoặc chia thừa kế.
Gói cây bản địa có cho tín chỉ carbon không?
Thường là không. Tín chỉ carbon cần dự án đủ lớn, đo đếm theo phương pháp được công nhận, kiểm định độc lập và đăng ký theo quy định. Một vài cây trong vườn gia đình không phải dự án như vậy; nên cẩn trọng với lời hứa kiểu này.