Đo cây chuẩn nghĩa là đo chu vi (hoặc đường kính) thân ở độ cao 1,3 mét tính từ mặt đất, đo chiều cao từ gốc tới ngọn, đo đường kính tán theo hai hướng vuông góc, và luôn ghi rõ đo ở đâu, bằng gì, ai đo. Chỉ cần làm đúng ba việc đó, số đo của một cây năm nay so được với năm sau, cây này so được với cây kia, và hồ sơ cây có giá trị như một chuỗi quan sát chứ không phải vài con số ngẫu nhiên.
Mốc 1,3 mét, thường viết tắt là D1.3 trong lâm nghiệp Việt Nam, được chọn vì ngang tầm ngực người đứng, dễ đo, và đã qua phần gốc phình. Phần dưới đi qua dụng cụ cần có, cách đo từng chỉ số, những trường hợp làm sai lệch số đo như cây trên dốc, cây nghiêng, cây có bạnh vè hay nhiều thân, và cách ghi để người đo sau lặp lại được đúng chỗ.
Dụng cụ cần có và thứ có thể thay
Một bộ đo cơ bản cho vườn, sân trường hay một đợt kiểm kê cộng đồng không cần thiết bị đắt tiền:
- Thước dây vải hoặc thép mỏng dài từ 5 mét trở lên. Loại thước đo đường kính chuyên dụng có in sẵn thang đổi từ chu vi ra đường kính tiện hơn, nhưng thước may vẫn dùng được nếu tự chia cho số pi.
- Một cây sào hoặc que đánh dấu 1,3 mét, cắt sẵn đúng chiều dài, để không phải đoán độ cao ngang ngực của mỗi người khác nhau.
- Thước đo cao hoặc ứng dụng đo góc trên điện thoại, kèm thước cuộn dài để đo khoảng cách từ chỗ đứng tới gốc.
- Phấn hoặc sơn đánh dấu tạm (với cây trong ô đo của dự án; cây vườn nhà, cây di sản thì tránh sơn lên thân).
- Sổ ghi hoặc mẫu biểu in sẵn có các cột: mã cây, ngày, người đo, chu vi, độ cao đo nếu khác 1,3 mét, chiều cao, tán hai hướng, ghi chú.
- Điện thoại để chụp ảnh chỗ đặt thước và ghi toạ độ.
Đơn vị nên thống nhất từ đầu: chu vi và đường kính bằng xăng-ti-mét, chiều cao và tán bằng mét, làm tròn đến một chữ số thập phân. Đổi đơn vị giữa các lần đo là nguồn sai số ngớ ngẩn nhưng rất hay gặp.
Đo chu vi thân ở 1,3 mét: các bước
Chu vi là số đo được dùng nhiều nhất, để tính đường kính, ước lượng sinh khối, so sánh sự sinh trưởng giữa các năm. Làm theo thứ tự sau:
- Đứng ở phía cao của cây nếu đất dốc; dựng que 1,3 mét sát thân, từ mặt đất tự nhiên (không tính đống rác, đá, bậc xây quanh gốc).
- Gạt dây leo, rêu dày, vật treo ra khỏi chỗ đo; không gỡ vỏ cây.
- Quấn thước vòng quanh thân, giữ thước nằm trên một mặt phẳng vuông góc với trục thân (cây nghiêng thì thước nghiêng theo), không vặn xoắn, kéo vừa căng.
- Đọc số tại chỗ hai đầu thước gặp nhau; đo lại lần hai, hai lần chênh nhau quá một xăng-ti-mét thì đo lần ba.
- Nếu cần đường kính, lấy chu vi chia cho 3,14; ghi cả hai số.
- Chụp ảnh thước đang quấn trên thân, thấy được chỗ đặt, để lần sau đo đúng vị trí.
Với cây nhỏ trong vườn, có thể đánh dấu mốc đo bằng một vòng dây mềm buộc lỏng hoặc một mốc gần gốc; đừng đóng đinh. Với cây trong ô đo của dự án trồng rừng, mốc sơn nhỏ ở 1,3 mét là cách làm phổ biến để các lần đo sau trùng chỗ.
Những trường hợp khó và cách xử lý
Phần lớn sai số trong kiểm kê cây đến từ những cây không đứng thẳng trên đất bằng. Bảng dưới gom cách xử lý thường dùng; điều quan trọng nhất là ghi lại đã làm thế nào.
| Trường hợp | Cách đo | Ghi chú vào hồ sơ |
|---|---|---|
| Cây trên dốc | Đo 1,3 mét tính từ mặt đất ở phía cao của sườn | "Đo từ phía dốc trên" |
| Cây nghiêng | Đo 1,3 mét dọc theo thân ở phía bụng (phía nghiêng xuống), thước vuông góc với thân | Ghi góc nghiêng ước tính và hướng nghiêng |
| Cây phân nhánh dưới 1,3 mét | Coi mỗi nhánh là một thân, đo từng nhánh ở 1,3 mét | Ghi số thân và chu vi từng thân |
| Cây có bạnh vè cao (lim, sấu, gạo già) | Đo ở chỗ thân đã gọn, trên đỉnh bạnh một khoảng | Ghi rõ độ cao đo thực tế, giữ cố định cho các năm sau |
| Chỗ 1,3 mét có u bướu, vết thương | Đo ngay trên hoặc dưới chỗ bất thường, nơi thân bình thường | Ghi độ cao đo thực tế |
| Đa, si có rễ phụ quanh thân | Ghi hai số: chu vi cả khối và chu vi thân chính nếu tách được | Ghi "có rễ phụ hợp thân" |
Nguyên tắc chung: nếu phải đo ở độ cao khác 1,3 mét, độ cao đó trở thành chuẩn của riêng cây ấy và lần sau phải đo đúng chỗ đó. Hai số đo ở hai độ cao khác nhau không so được với nhau.
Đo chiều cao bằng thước đo cao hoặc điện thoại
Chiều cao cây đo gián tiếp bằng lượng giác: đứng cách gốc một khoảng đã đo, ngắm lên ngọn đo được một góc, ngắm xuống gốc đo được một góc khác, rồi tính. Thước đo cao chuyên dụng và nhiều ứng dụng trên điện thoại đã làm sẵn phép tính này, chỉ cần nhập khoảng cách. Chỗ hay sai là chọn ngọn: với cây tán tròn như xoài, đa, nhìn từ dưới lên rất dễ ngắm nhầm vào mép tán gần mình thay vì đỉnh thật. Nên lùi ra xa, khoảng bằng hoặc hơn chiều cao cây, và đo từ hai hướng rồi lấy trung bình.
Đất dốc thì phép tính phải cộng hoặc trừ phần chênh giữa mắt người đo và gốc cây; các thước tốt xử lý được nếu ngắm cả gốc lẫn ngọn. Cây nghiêng mạnh thì chiều cao thẳng đứng nhỏ hơn chiều dài thân, hồ sơ nên ghi rõ đang đo cái nào. Với cây thấp dưới vài mét, cứ dùng sào có vạch đo thẳng là chính xác nhất. Sai số vài mét ở cây cao hơn hai mươi mét là bình thường; vì vậy so chiều cao giữa các năm chỉ có ý nghĩa khi chênh lệch lớn hơn sai số đo, còn theo dõi sinh trưởng hằng năm thì dựa vào chu vi đáng tin hơn.
Đo tán và ghi vị trí để lần sau đo đúng cây
Đường kính tán đo bằng cách đi tới mép ngoài cùng của tán ở một hướng, đánh dấu điểm trên mặt đất ngay dưới mép lá, rồi đi sang mép đối diện, đo khoảng cách giữa hai điểm. Làm lại ở hướng vuông góc. Ghi cả hai số và hướng đo, ví dụ bắc nam và đông tây. Tán lệch hẳn về một phía là thông tin quan trọng cho đánh giá an toàn, vì cây có tán lệch dễ đổ về phía nặng khi gió mạnh và đất mềm sau mưa.
Ghi vị trí cây gồm toạ độ lấy bằng điện thoại, kèm mô tả bằng lời theo vật mốc cố định: cách góc tường đình bao nhiêu mét về phía nào, là cây thứ mấy tính từ cổng trường theo hàng phía tây. Toạ độ điện thoại có thể lệch vài mét, đủ để nhầm giữa hai cây đứng gần nhau; mô tả bằng mốc giúp người sau đi tới đúng cây. Ảnh toàn cây chụp từ một chỗ đứng cố định, có ghi chỗ đứng, là thứ thứ ba khóa danh tính của cây vào số đo. Ba thứ này cộng lại làm cho bộ số đo năm nay gắn được vào đúng cây mà năm sau ai đó sẽ đo lại.
Nếu đo cùng học sinh hay tình nguyện viên, chia nhóm ba người: một người giữ que mốc và quấn thước, một người đọc số và kiểm thước không xoắn, một người ghi sổ và chụp ảnh. Sau mỗi mười cây, đổi vai để ai cũng hiểu từng bước. Cuối buổi, chọn ngẫu nhiên vài cây cho nhóm khác đo lại; nếu số chênh nhiều, tìm ra nguyên nhân ngay hôm đó thay vì để sai số nằm im trong hồ sơ. Một buổi đo như vậy vừa cho số liệu dùng được, vừa là bài học ngoài trời về cách quan sát cẩn thận.
Những lỗi đo hay gặp khi nhiều người cùng đo
Mỗi người một độ cao ngang ngực. Người cao đo ở 1,4 mét, người thấp đo ở 1,2 mét; với cây có thân thuôn nhanh, chênh vài xăng-ti-mét chu vi. Que mốc 1,3 mét cắt sẵn giải quyết gọn chuyện này.
Thước bị xoắn hoặc vướng. Thước dây bị vặn một vòng, vắt qua cành nhỏ, dây leo hay mắc vào u bướu cho số lớn hơn thật. Người thứ hai đứng phía sau cây kiểm tra thước nằm phẳng là cách rẻ nhất để tránh sai.
Đọc nhầm mặt thước. Nhiều thước có một mặt chia xăng-ti-mét, một mặt chia đơn vị khác, hoặc một mặt là đường kính quy đổi. Thống nhất mặt đọc trước khi bắt đầu và ghi vào đầu sổ.
Ghi sai cây. Hai cây cùng loài đứng gần nhau rất dễ bị ghi lẫn số. Mỗi cây đo xong chụp một ảnh có thẻ hoặc mốc vị trí trong khung hình, rồi mới chuyển sang cây kế.
Làm tròn quá tay. Chu vi làm tròn tới chục xăng-ti-mét thì không thấy được cây lớn thêm bao nhiêu sau một năm. Ghi đến xăng-ti-mét, chiều cao đến nửa mét là vừa.
Từ số đo thành thông tin: đọc chuỗi số qua các năm
Một lần đo cho biết cây to cỡ nào; nhiều lần đo cho biết cây đang sống ra sao. Chu vi tăng đều mỗi năm là cây khoẻ. Chu vi gần như đứng yên vài năm liền ở cây chưa già có thể là dấu hiệu rễ bị tổn thương, đất bị nén, thiếu nước kéo dài; với cây cổ thụ thì tăng rất chậm là bình thường, nhưng tán thưa dần, cành khô ngọn tăng lên mới là điều đáng lo. Tán hẹp lại sau một mùa thi công gần gốc là chỉ báo mạnh rằng rễ đã bị cắt.
Vì vậy hồ sơ cây nên để số đo thành bảng theo năm thay vì ghi đè số mới lên số cũ. Mỗi dòng một lần đo, cùng ảnh của lần đó. Với nhà vườn, bảng này cho biết cây nào sinh trưởng kém để xem lại đất, nước. Với trường học hay ban quản lý di tích, nó là bằng chứng rằng cây được theo dõi, và là căn cứ khi phải đề nghị chuyên gia xem cây. Với dự án trồng rừng, chuỗi số đo trong ô là nền của mọi con số báo cáo về tỷ lệ sống và sinh trưởng.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao đo cây ở độ cao 1,3 mét mà không phải sát gốc?
Sát gốc thân thường phình to và không đều vì rễ, nên số đo dao động mạnh. Độ cao 1,3 mét ngang tầm ngực người lớn, dễ đo, đã qua phần phình gốc ở đa số cây, và là chuẩn chung trong lâm nghiệp nên số liệu so được với các cuộc kiểm kê khác.
Đo chu vi hay đo đường kính thì tốt hơn?
Ngoài thực địa, đo chu vi bằng thước dây dễ và ít sai hơn đo đường kính bằng thước kẹp với cây lớn. Đường kính tính ra bằng cách chia chu vi cho 3,14. Hồ sơ nên ghi cả hai, và ghi rõ số nào là đo trực tiếp, số nào là tính ra.
Ứng dụng đo chiều cao trên điện thoại có chính xác không?
Đủ dùng cho hồ sơ cây nếu đứng đủ xa, nhập đúng khoảng cách và ngắm trúng ngọn thật. Sai số vài mét với cây cao là bình thường. Nên đo từ hai hướng và lấy trung bình, và đừng dùng chiều cao để theo dõi sinh trưởng từng năm.
Cây có nhiều thân mọc từ một gốc thì ghi thế nào?
Nếu thân tách ra dưới độ cao 1,3 mét, đo từng thân ở 1,3 mét và ghi số thân cùng chu vi từng thân. Nếu tách ra ở trên 1,3 mét thì vẫn coi là một thân và đo bình thường. Ghi rõ cách đã làm để lần sau lặp lại đúng.
Bao lâu nên đo lại một lần?
Cây vườn và cây kỷ niệm đo mỗi năm một lần, cùng một mùa, là đủ để thấy xu hướng. Cây cổ thụ cần theo dõi an toàn thì ngoài đo hằng năm nên quan sát thêm trước và sau mùa mưa bão. Ô đo của dự án trồng rừng đo theo chu kỳ ghi trong kế hoạch giám sát của dự án.
Đo cây trong khu di tích có cần xin phép không?
Đo bằng thước dây không gây hại cho cây, nhưng cây nằm trong khu di tích, khuôn viên cơ quan hay đất của người khác thì nên báo và xin phép người quản lý. Tuyệt đối không leo trèo, không đóng đinh, không sơn lên thân cây di tích để đánh dấu.